Trà dư tửu hậu

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 5.0/5 (1 vote cast)

Những ai thích uống rượu và ưa thưởng trà mà lại có bạn hiền thì câu chuyện trà dư tửu hậu mới có dịp nảy nở một cách thú vị.

Thật đúng với ý của Nguyễn Khuyến khi khóc Dương Khuê:

“Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.”

Rất nhiều người thắc mắc rằng: “Tại sao người ta lại gọi là trà dư tửu hậu?” Trà dư tửu hậu có nghĩa là cái dư vị ngọt ngào của trà sau khi uống xong còn lưu lại trong miệng và cái cảm giác êm đềm lâng lâng và say ngà ngà sau khi uống rượu còn tồn tại nơi ta.

Nghĩa bóng của trà dư tửu hậu là để chỉ câu chuyện phiếm về đủ mọi đề tài giữa bạn bè sau khi đã thưởng trà hay uống rượu.

Các cụ cho thứ trà ngon là thứ trà sau khi uống xong ta cảm thấy vị ngọt ngào đậm đà và thơm tho còn thấm lắng trong cuống họng, trên lưỡi, và ngoài môi. Những người sành rượu cho rằng thứ rượu ngon là thứ rượu sau khi uống ta cảm thấy say êm êm, thoải mái, hứng thú, không bị nhức đầu, và “mềm môi chén mãi tít cung thang.” Chính nhờ vậy mà sau khi thưởng trà hay uống rượu, ta mới có thú nói chuyện phiếm với nhau. Những câu chuyện nói trong dịp này được gọi là “chuyện trà dư tửu hậu.”

Nhà văn Lạp Chúc Nguyên Huy cho rằng lúc trà dư tửu hậu là lúc người ta bàn chuyện nhân tình thế thái trong khi tâm hồn lâng lâng và cảm thấy trời đất mang mang bởi vì mới cạn một hồ trường.

Sau khi uống rượu vào là có bao nhiêu bầu tâm sự cũng trút ra hết, hết chuyện người lại đến chuyện gia đình và chuyện nghề nghiệp của mình. Vì thế người xưa mới có câu: “Rượu vào, lời ra” là để chỉ việc này. Và cũng chính vì thế mà người có tư cách, biết tự trọng, và có trách nhiệm thường tránh uống rượu say. Nếu đã say thì họ cố gắng tránh nói nhiều, nhất là tránh nói về những chuyện cần phải bảo mật mà chỉ hướng câu chuyện về đề tài văn chương, thơ phú, và thời sự mà thôi.

Sau khi uống rượu, người ta còn quên chuyện buồn phiền và có hứng làm thơ. Thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, trong bài “Thơ rượu,” có viết:

“Cảnh đời gió gió mưa mưa,
Buồn trông, ta phải say sưa đỡ buồn.
Rượu say, thơ lại khơi nguồn,
Nên thơ, rượu cũng thêm ngon giọng tình.
Rượu thơ mình lại với mình,
Khi say quên cả cái hình phù du.”

Thi sĩ Tản Đà còn coi rượu với thơ là lẽ sống. Trong bài “Ngày xuân thơ rượu,” ông viết:

“Trời đất sinh ta rượu với thơ,
Không thơ không rượu sống như thừa.”

Quả thật, không gì thú vị bằng chuyện trà dư tửu hậu khi có vừa đủ số bạn bè họp mặt như lời tiền nhân đã được diễn tả trong câu: “Trà tam tửu tứ.” Uống trà phải có ba người mới thật là tuyệt, nhậu rượu mà có được bốn người thì cuộc vui mới thật thú vị. Lý do chính là khi có vừa đủ số người lý tưởng tham dự, trà tam tửu tứ, thì việc tiếp đãi của chủ nhân mới được chu đáo, trà đủ cữ đậm đà, rượu mới có cơ hội chén thù (chén rượu chủ rót ra mời khách) chén tạc (chén rượu khách rót ra mời lại chủ), và người này nói mới có người kia nghe. Nhờ đó, câu chuyện mới được vui tươi và hứng thú.

Sau khi nhấp chén trà hay hớp ngụm rượu, người ta thường có thói quen “khà” một tiếng rồi chậm rãi kể chuyện cho nhau nghe. Nhờ đó câu chuyện mới có thi vị và bạn bè mới có hứng thú và chú ý nghe. Tuy nhiên, uống rượu phải theo cung cách tiên tửu, chúng ta mới hưởng được cái thú của trà dư tửu hậu.

Tiên tửu nghĩa là cách uống rượu có chừng mực, uống một cách thanh lịch, và uống còn đủ tỉnh để nghe người khác nói hầu có thể phán đoán, đối đáp với bạn bè, và nhất là được hưởng cái thú rượu uống ngà ngà. Trái nghĩa với tiên tửu là tục tửu. Tục tửu để chỉ cách uống rượu của những hạng người thô tục.

Những hạng tục tửu thường uống rượu thật nhiều, thi nhau uống hết chai này đến chai khác, và uống cho say túy lúy. Khi đã say rồi, mọi người đều nói, thi nhau nói, và cố nói cho thật to mà không ai chịu nghe người khác nói. Kết quả là say mê man, bắt đầu nói nhảm, mửa ra mật xanh mật vàng ngay tại chỗ, và cuối cùng ngủ li bì như chết cho tới một hai ngày, chỉ khổ cho vợ con.

Những câu chuyện trà dư tưu hậu thường bàn về chuyện thế thái nhân tình gồm: chuyện tiếu lâm, thơ văn điển tích, chính trị, tôn giáo, chiến tranh, và bàn hết chuyện người lại tới đến chuyện mình, nghĩa là gồm đủ thứ chuyện. Câu chuyện có thú vị và hào hứng hay không là do người kể và người nghe có tỉnh táo hay không, và lối kể chuyện cùng nghệ thuật gợi chuyện của bạn bè họp mặt có hòa hợp hay không.

Có biết cách sống, có bằng hữu tốt, có gia đình hạnh phúc, có tri âm tri kỷ, có cuộc sống thanh cao thoải mái, và có sức khỏe tốt, chúng ta mới có cơ hội thưởng thức thú trà dư tửu hậu với đúng nghĩa của nó.

Dạy đĩ vén xống

Việc làm thừa, không cần thiết Ngôn ngữ Bắc Kỳ xưa có câu “Dạy đĩ vén xống…”. “Xống” đây là một tên khác, một tên văn hoa hơn, của cái váy của phụ nữ Bắc Kỳ. ( áo xống)Sở dĩ viết là “Bắc Kỳ xưa..” vì câu ấy là một câu nói đặc biệt Bắc Kỳ, và đến ... Xem chi tiết

Dạy đĩ vén váy

Dạy dỗ, chỉ bảo những điều mà người ta vốn rất thông thạo ; vốn là một việc làm vô nghĩa, không cần thiết. Tương tự như câu : " Dạy khỉ leo cây" ; " Dạy đĩ vén xống" ... Xem chi tiết

Ăn đơm nói đặt

Tự bày đặt chuyện không có, vu cáo, dối trá . Bịa đặt, dựng chuyện, vu oan giá hoạ cho người khác. Đơm đặt nghĩa là thêu dệt, bịa chuyện về người khác với dụng ý xấu. Ăn nói đơm đặt, họ đọc thế để nhấn mạnh, giống như ''con ông cháu cha'' chứ ko ... Xem chi tiết

Xập xí xập ngầu

Làm nhập nhằng để gian lận. Nghĩa của thành ngữ này là : mười bốn nói là mười lăm, mười lăm nói là mười bốn, không minh bạch rõ ràng. Tiếng Việt có từ “ù xịa” cũng dùng để chỉ khái niệm này. Theo An Chi, xập xí là âm Triều Châu của 十 四 (tiếng ... Xem chi tiết

Mèo đàng chó điếm

Dùng để ví kẻ ăn chơi đàng điếm, trác táng, đáng khinh, hay ở đàng, ở quán, không lo việc làm ăn. Mèo đàng, chó điếm là một thành ngữ có nghĩa đen là mèo hoang, chó lang. Mèo đàng: "Đàng" là đường, như trong đường cái, đường hẻm, đường sá, đường ... Xem chi tiết